Sau 03 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, nếu số cổ phần được quyền phát hành không được bán hết, công ty phải đăng ký điều chỉnh giảm số vốn được quyền phát hành ngang bằng với số cổ phần đã phát hành. Công ty cổ phần không được tăng số cổ phần được quyền phát khi số cổ phần hiện có chưa được bán hết.

Tổng cục Thuế trả lời vướng mắc về chi phí lãi vay góp vốn điều lệ của Công ty cổ phần như sau:

1.      Căn cứ khoản 1 khoản 4 Điều 84 Luật DN số 60/2005/QH11 quy định:

-      Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

-      Trường hợp các cổ đông sáng lập không đăng ký mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần lại phải được chào bán và bán hết trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

2.      Khoản 3 Điều 15 Nghị định 139/2007/NĐ-CP quy định: sau ba năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nếu số cổ phần được quyền chào bán quy định tại Khoản 4 Điều 84 của Luật DN không được bán hết thì Công ty phải đăng ký điều chỉnh giảm số vốn được quyền phát hành ngang bằng với số cổ phần đã phát hành.

3.      Khoản 9 Điều 23 Nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định: sau 03 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, nếu số cổ phần được quyền phát hành quy định tại khoản 4 Điều 84 Luật Doanh nghiệp không được bán hết, công ty phải đăng ký điều chỉnh giảm số vốn được quyền phát hành ngang bằng với số cổ phần đã phát hành. Công ty cổ phần không được tăng số cổ phần được quyền phát khi số cổ phần hiện có chưa được bán hết.

4.      Căn cứ tiết 2.18 khoản 2 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC về thuế TNDN quy định các khoản chi không được trừ:

-      Chi trả lãi tiền vay vốn tương ứng với phần vốn điều lệ (đối với doanh nghiệp tư nhân là vốn đầu tư) đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp kể cả trường hợp doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh. Chi trả lãi tiền vay đã được ghi nhận vào giá trị của tài sản, giá trị công trình đầu tư.

5.      Căn cứ các quy định nêu trên, Tổng cục Thuế thống nhất với quan điểm xử lý của Cục thuế TP.Hà Nội: Trường hợp nếu sau 3 năm kể từ thời điểm cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tăng vốn điều lệ mà đơn vị chưa góp đủ vốn và không thực hiện đăng ký điều chỉnh giảm vốn với Sở Kế hoạch Đầu tư là không theo quy định do vậy khoản chi phí lãi tiền vay tương ứng phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Trường hợp các đơn vị còn không thống nhất về thời điểm xác định việc điều chỉnh tăng giảm vốn thì tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành để thực hiện theo đúng quy định.

 

Hướng dẫn tại công văn 1549/TCT-CS ngày 19/04/2019 của Tổng cục Thuế.

Văn bản gốc đã được cập nhật trong ứng dụng VBPL, hoặc có thể
xem tại đây