Dịch vụ cung cấp hóa đơn điện tử không phải ngành nghề kinh doanh có điều kiện

DN cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử (HĐĐT) phải đáp ứng khá nhiều tiêu chí theo Thông tư 68/2019/TT-BTC vừa được Bộ Tài chính ban hành. Tuy nhiên, theo Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách Tổng cục Thuế Nguyễn Hữu Tân, đây chỉ là tiêu chuẩn, quy chuẩn trong việc cung cấp dịch vụ HĐĐT, chứ không phải là điều kiện kinh doanh.
 
Liên quan đến HĐĐT, được biết, Thông tư 68/2019/TT-BTC đã quy định cụ thể hơn đối với những trường hợp ngừng sử dụng HĐĐT có mã và không có mã của cơ quan thuế. Vậy ông có thể nói rõ hơn về những điểm mới này?
 
Mặc dù Nghị định 119/2018/NĐ-CP đã quy định 4 trường hợp buộc phải ngừng sử dụng HĐĐT có mã xác thực (bao gồm DN, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân kinh doanh chấm dứt hiệu lực mã số thuế; không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; tạm ngừng kinh doanh; bị cưỡng chế nợ thuế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn) nhưng vẫn còn những trường hợp khác theo quy định của Bộ Tài chính. Để làm rõ thêm 3 trường hợp khác, Thông tư 68/2019/TT-BTC đã bổ sung các đối tượng sử dụng HĐĐT để bán hàng nhập lậu, hàng cấm, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; trường hợp sử dụng hóa đơn phục vụ mục đích bán khống hàng hóa, cung cấp dịch vụ để chiếm đoạt tiền của tổ chức, cá nhân bị cơ quan chức năng phát hiện và thông báo sẽ ngay lập tức bị cơ quan thuế ngừng cung cấp HĐĐT có mã xác thực. Ngoài ra, còn có các trường hợp cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu DN tạm ngừng kinh doanh, tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành nghề có điều kiện mà không đáp ứng đủ điều kiện; DN thành lập nhằm mục đích mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn nếu bị phát hiện, cũng sẽ bị cơ quan thuế chấm dứt việc sử dụng hóa đơn có mã xác thực.
 
Các trường hợp buộc phải ngừng sử dụng hóa đơn nêu trên đều là vi phạm pháp luật, bị xử lý vi phạm hành chính, thậm chí bị truy tố. Việc buộc phải ngừng sử dụng hóa đơn chỉ là một trong các biện pháp nhằm tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch, ngăn ngừa gian lận thuế, chống thất thu ngân sách.
 
Tuy nhiên, DN, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ cá nhân kinh doanh thuộc các trường hợp ngừng sử dụng hóa đơn sẽ được tiếp tục sử dụng HĐĐT có mã, hoặc không có mã sau khi thông báo với cơ quan thuế về việc tiếp tục kinh doanh, hoặc được khôi phục mã số thuế, được bãi bỏ quyết định cưỡng chế thuế. Đối với trường hợp tạm ngừng kinh doanh, cần có HĐĐT giao cho người mua để thực hiện các hợp đồng đã ký trước ngày có thông báo tạm ngừng kinh doanh, thì cần có văn bản thông báo với cơ quan thuế được tiếp tục sử dụng HĐĐT có mã  theo từng lần phát sinh.
 
Dịch vụ cung cấp HĐĐT không thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư. Vậy tại sao quy định về HĐĐT lại đặt ra điều kiện đối với dịch vụ này, thưa ông?
 
Khi xây dựng Nghị định 119/2018/NĐ-CP và Thông tư 68/2019/TT-BTC nội dung này đã được thảo luận rất nhiều. Tiếp thu các ý kiến góp ý, Thông tư 68/2019/TT-BTC đã quy định DN tham gia cung cấp dịch vụ HĐĐT phải có tối thiểu 5 năm hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin; đã triển khai hệ thống, ứng dụng công nghệ thông tin cho tối thiểu 10 tổ chức; có cam kết bảo lãnh của tổ chức tín dụng với giá trị trên 5 tỷ đồng để giải quyết các rủi ro và bồi thường thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình cung cấp dịch vụ; có tối thiểu 20 nhân viên kỹ thuật trình độ đại học chuyên ngành về công nghệ thông tin… Việc đưa ra các tiêu chuẩn này là do HĐĐT là dịch vụ công, mà để cung cấp dịch vụ công DN phải đáp ứng các tiêu chuẩn điều kiện nhất định. Do đó, để cung cấp dịch vụ HĐĐT, DN cần ký hợp đồng với Tổng cục Thuế, tức là Tổng cục Thuế đại diện cho cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu đối tác về các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể để bảo đảm hợp đồng cung cấp dịch vụ công được thực hiện tốt nhất.
 
Lộ trình chuyển đổi sang HĐĐT đang bước vào giai đoạn “nước rút” nhất là tại các TP lớn như Hà Nội và TP HCM. Vậy ông có thể cho biết, việc chuyển tiếp HĐĐT như thế nào để hợp pháp và không làm gián đoạn công việc kinh doanh của DN?
 
Mặc dù Thông tư 68/2019/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 14/11/2019 nhưng hiện nay các văn bản của Bộ Tài chính như thông tư hướng dẫn về hóa đơn tự in, đặt in, hóa đơn mua của cơ quan thuế và quyết định về việc thí điểm sử dụng HĐĐT có mã xác thực của cơ quan thuế (Thông tư 32/2011/TT-BTC; Thông tư 191/2010/TT-BTC; Thông tư số 39/2014/TT-BTC; Quyết định 1209/QĐ-BTC, Quyết định 526/QĐ-BTC) vẫn có hiệu lực thi hành. Chỉ từ 1/11/2020, khi các thông tư, quyết định này sẽ hết hiệu lực, thì các DN, tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh mới bắt buộc phải thực hiện đăng ký áp dụng HĐĐT theo hướng dẫn tại Thông tư 68/2019/TT-BTC.
 
Trong thời gian từ ngày 1/11/2018 đến ngày 31/10/2020, cơ quan thuế đã thông báo với cơ sở kinh doanh chuyển đổi để áp dụng HĐĐT theo Nghị định 119/2018/NĐ-CP và Thông tư 68/2019/TT-BTC, nếu cơ sở kinh doanh chưa đáp ứng điều kiện về hạ tầng CNTT mà tiếp tục sử dụng hóa đơn theo các hình thức nêu trên, thì thực hiện gửi dữ liệu hóa đơn đến cơ quan thuế theo mẫu số 03 phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 119/2018/NĐ-CP cùng với việc nộp tờ khai thuế GTGT. Đối với tổ chức sự nghiệp công lập (các cơ sở giáo dục, y tế công lập) đã sử dụng phiếu thu tiền thì tiếp tục sử dụng. Trường hợp cơ quan thuế thông báo chuyển đổi để áp dụng HĐĐT có mã của cơ quan thuế, nhưng chưa đáp ứng điều kiện về hạ tầng CNTT mà tiếp tục sử dụng hóa đơn kiêm phiếu thu tiền theo quy định tại các Nghị định 51/2010/NĐ-CP và Nghị định 04/2014 thì thực hiện chuyển dữ liệu hóa đơn cho cơ quan thuế theo mẫu 03, cùng với nộp tờ khai thuế GTGT. Nếu đáp ứng đủ điều kiện về hạ tầng CNTT, thì tổ chức sự nghiệp công lập đăng ký sử dụng HĐĐT có mã, hoặc không mã của cơ quan thuế theo quy định tại Điều 8 và Điều 13 của Thông tư 68/2019/TT-BTC./.  
 
Xin cảm ơn ông!


Nguồn: TCT Online