Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quản lý thuế đối với DN giao dịch liên kết

Liên quan đến dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 20/2017/NĐ-CP về quản lý thuế đối với DN có giao dịch liên kết (NĐ 20), Luật sư Hà Huy Phong, Giám đốc Công ty Luật Inteco đã có cuộc trao đổi về một số nội dung đang được dư luận quan tâm.

 
Thưa ông, sau 3 năm thực hiện, trên góc độ luật pháp, NĐ 20 đã có đóng góp như thế nào trong hoạt động quản lý đối với DN có giao dịch liên kết, cũng như đưa Việt Nam tiến gần hơn đến các chuẩn mực quốc tế về gia tăng tính minh bạch và nỗ lực chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận?
 
Có thể nói, kể từ khi ra đời, NĐ 20 đã có những đóng góp rõ ràng về mặt pháp lý. Thứ nhất, NĐ 20 đã cung cấp cơ sở pháp lý vững chắc và công cụ mạnh mẽ hơn cho hoạt động kiểm tra do cơ quan thuế thực hiện tại các DN có giao dịch liên kết. Đây là lần đầu tiên có một văn bản quy phạm pháp luật cấp nghị định về chống chuyển giá được ban hành tại Việt Nam, không chỉ cung cấp các quy định có tính hướng dẫn nghiệp vụ cho cơ quan thuế, mà còn gửi tới các DN liên kết, cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam một thông điệp mạnh mẽ về quyết tâm của Chính phủ trong việc chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận. Thứ hai, trước và sau thời điểm ban hành NĐ 20, một loạt DN có giao dịch liên kết đang từ báo cáo lỗ lớn, đã chuyển sang có lãi và liên tục có lãi cho đến nay. Điều đó chứng tỏ hoạt động chuyển giá tại các DN có giao dịch liên kết đã từng bước được đưa vào khuôn khổ quản lý. Với việc các DN có mô hình công ty mẹ - con, liên kết báo lãi, NSNN có thêm nguồn thu lên tới hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm. Thứ ba, việc ban hành NĐ 20 giúp Việt Nam ngày càng tiệm cận tới các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động quản lý thuế, đặc biệt là các hoạt động chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận. Đây cũng là cơ sở thuyết phục để Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) kết nạp Việt Nam là thành viên thứ 100 tham gia Diễn đàn hợp tác thực hiện chương trình hành động chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS), nhằm cụ thể hoá và triển khai các hành động và khuyến nghị của OECD trong việc chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận.
 
Để phù hợp với các diễn biến mới của thế giới và khu vực, bắt kịp xu hướng quản lý thuế quốc tế đối với các khoản nợ, vay nợ giữa các tập đoàn kinh tế, công ty mẹ-con, DN liên kết, Bộ Tài chính đang sửa đổi NĐ 20, trong đó đề xuất sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Điều 8 theo hướng tăng trần khống chế chi phí lãi vay lên 30% thay vì 20% như hiện nay. Theo ông, mức đề xuất này có phù hợp với thực tế của Việt Nam?
 
Theo khuyến nghị tại BEPS, mức khống chế lãi vay có thể được tính theo tỷ lệ cố định, trong đó chi phí lãi vay thuần được trừ dao động trong khoảng 10%-30% của EBITDA (lợi nhuận của công ty trước lãi vay và khấu hao); hoặc tính theo tỷ lệ tập đoàn. Việt Nam hiện là quốc gia đang phát triển và là thị trường màu mỡ cho nhiều tập đoàn đa quốc gia, đặc biệt là các tập đoàn sản xuất và tiêu thụ hàng tiêu dùng. Nhiều DN nước ngoài mong muốn được đầu tư lâu dài tại Việt Nam, nên họ cũng cần một môi trường kinh doanh cạnh tranh minh bạch, công bằng. Trong khi thành phần kinh tế ở Việt Nam lại chủ yếu là các DN vừa và nhỏ, nên khả năng tìm kiếm nguồn vốn quốc tế thông qua phát hành trái phiếu, vay tín dụng gặp nhiều khó khăn. Chính vì lẽ đó, làm thế nào để có được một chính sách vừa cân bằng được quyền và lợi ích của các công ty có quy mô vốn đầu tư lớn sở hữu hệ thống công ty thành viên, công ty liên kết phức tạp với các DN vừa và nhỏ trong các hoạt động huy động vốn, vay nội bộ, sở hữu chéo, góp vốn dưới hình thức lãi vay để thu lãi trong khi vẫn đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng và chống thất thu ngân sách là một yêu cầu được đặt lên vai ngành thuế. Chưa kể, ở thời điểm hiện, tại Việt Nam cũng đã có một số tập đoàn tư nhân bước đầu thành công trong việc vươn ra thị trường quốc tế, thu hút những nguồn vốn khủng từ nước ngoài để tiếp sức cho các công ty con ở trong nước, tạo đà phát triển cho cả nền kinh tế. Do vậy, việc nâng giới hạn tỷ lệ lãi vay trên tổng chi phí tính thuế từ 20% lên 30% sẽ tạo cơ hội và điều kiện cho các DN nội địa tăng khả năng thu hút vốn nước ngoài vào thị trường trong nước.
 
 
Cùng với việc sửa đổi, bổ sung NĐ 20, để công tác quản lý thuế đạt hiệu quả cao hơn nữa, nhất là trong công tác quản lý các DN có giao dịch liên kết, theo ông ngành thuế cần chú trọng thêm vấn đề gì?
 
NĐ 20 bên cạnh các kết quả nêu trên, thì còn cần có sự sửa đổi, bổ sung để tháo gỡ khó khăn cho DN trong việc huy động vốn. Việc ban hành NĐ sửa đổi, bổ sung cần bao quát cả về quy định pháp luật và nghiệp vụ để thống nhất trong quá trình triển khai, đảm bảo đơn giản thuận lợi cho DN. Bên cạnh đó, cơ quan thuế cũng cần tăng cường và duy trì hoạt động kiểm tra, xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế; củng cố cơ sở dữ liệu trong kê khai, xác định giá liên kết; đẩy mạnh trao đổi thông tin hợp tác quốc tế trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu và áp dụng các biện pháp chống xói mòn cơ sở thuế, chuyển lợi nhuận.
 
Đối với các DN liên kết trong nước, ngành thuế cần thường xuyên tổ chức diễn đàn để ghi nhận ý kiến, đánh giá và phân tích những kiến nghị để có giải pháp quản lý thuế hợp lý hơn. Đồng thời, việc đánh giá tình hình sẽ đảm bảo tính khách quan và công bằng giữa mọi loại hình DN, kể cả DN có quan hệ liên kết và DN không liên kết.
 
Xin cảm ơn ông!

Nguồn: TTC online