Chế độ phụ cấp, trợ cấp đối với viên chức Ngành BHXH công tác ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn

Ngày 08/10/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 76/2019/NĐ-CP về Chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Triển khai Nghị định số 76/2019/NĐ-CP, ngày 15/07/2020, BHXH Việt Nam ra Công văn số 2284/BHXH-TCCB gửi BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chế độ phụ cấp, trợ cấp đối với viên chức quy định tại Công văn số 2284/BHXH-TCCB được áp dụng kể từ ngày 01/12/2019.

Tuyên truyền BHXH, BHYT tại Hà Giang (Ảnh: Bảo Trân)

Hướng dẫn thực hiện chính sách đối với viên chức công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm phụ cấp thu hút; phụ cấp công tác lâu năm; trợ cấp lần đầu; trợ cấp tiền mua và vận chuyển nước ngọt và sạch; trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; thanh toán tiền tàu xe; trợ cấp một lần khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện  kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khi nghỉ hưu - Công văn số 2284/BHXH-TCCB áp dụng cho đối tượng viên chức được điều động, luân chuyển, biệt phái, tiếp nhận, tuyển dụng, kể cả người tập sự, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tạm tuyển, hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ.

Chế độ phụ cấp, trợ cấp

Đối tượng tại Công văn số 2284/BHXH-TCCB được hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp, bao gồm: Phụ cấp thu hút; phụ cấp công tác lâu năm công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; trợ cấp tiền mua và vận chuyển nước ngọt và sạch; trợ cấp một lần khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc nghỉ hưu; trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và thanh toán tiền tàu xe quy định tại các Điều 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 trong Nghị định số 76/2019/NĐ-CP.

Thời gian tính hưởng các loại phụ cấp, trợ cấp: Thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là tổng thời gian làm việc có đóng BHXH bắt buộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (nếu có thời gian đứt quãng mà chưa hưởng chế độ BHXH thì được cộng dồn), bao gồm: Thời gian làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; Thời gian làm việc trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và cơ yếu.

Tính thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo tháng và theo năm: Tính theo tháng, trường hợp có từ 50% trở lên thời gian trong tháng thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được tính cả tháng; trường hợp có dưới 50% thời gian trong tháng thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì không tính; tính theo năm, dưới 03 tháng thì không tính, từ đủ 03 tháng đến đủ 06 tháng thì được tính bằng 1/2 năm công tác; trên 06 tháng đến 12 tháng thì được tính bằng 01 năm công tác.

Lưu ý, thời gian không được tính hưởng các chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại Công văn số 2284/BHXH-TCCB, gồm: Thời gian đi công tác, làm việc, học tập không ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 01 tháng trở lên; thời gian nghỉ việc không hưởng lương liên tục từ 01 tháng trở lên; thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH; thời gian bị tạm đình chỉ công tác, thời gian bị tạm giữ, tạm giam.

Nguyên tắc áp dụng

Viên chức thuộc đối tượng áp dụng chế độ phụ cấp, trợ cấp (chính sách quy định trong Nghị định số 76/2019/NĐ-CP) tại Công văn số 2284/BHXH-TCCB, đồng thời thuộc đối tượng áp dụng chính sách cùng loại quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác thì chỉ được hưởng một mức cao nhất của chính sách đó.

Trường hợp nghỉ hưu, thôi việc hoặc chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc nơi công tác được cấp có thẩm quyền quyết định không còn là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thôi hưởng chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại Công văn số 2284/BHXH-TCCB kể từ ngày nghỉ hưu, thôi việc hoặc chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trừ trường hợp quy định tại Điều 8, Nghị định số 76/2019/NĐ-CP.

Các khoản phụ cấp, trợ cấp quy định tại Công văn số 2284/BHXH-TCCB  tính như sau:

Đối với phụ cấp thu hút và trợ cấp một lần khi chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc nghỉ hưu, quy định tại Điều 4 và Điều 8 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP, được hưởng mức lương hiện hưởng (bảng lương quy định trong Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang) cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có).

Đối với phụ cấp công tác lâu năm công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, quy định tại Điều 5 và Điều 6 Nghị định số 76/2019/NĐ-CP được tính theo mức lương cơ sở (Nghị định số 38/2019/NĐ-CP ngày 09/05/2019 của Chính phủ Quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang).

Chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định tại Công văn số 2284/BHXH-TCCB, được hưởng một lần lương (không được hưởng tiền lương tăng thêm theo quy định của Ngành), không dùng để tính đóng, hưởng chế độ BHXH, BHYT, BHTN.

Tại Công văn số 2284/BHXH-TCCB, BHXH Việt Nam cũng quy định Giám đốc BHXH tỉnh, nơi có Trụ sở BHXH huyện nằm trong vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, quán triệt nội dung Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và nội dung Công văn số 2284/BHXH-TCCB đến toàn thể công chức, viên chức, đồng thời, có trách nhiệm nghiêm túc thực hiện chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định, chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và trước pháp luật nếu thực hiện không đúng quy định; thực hiện chi trả chế độ phụ cấp thu hút và phụ cấp công tác lâu năm đối với viên chức công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn vào cùng kỳ lương hằng tháng; tổ chức kiểm tra, giải quyết những vướng mắc trong thực hiện chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định đối với các đơn vị thuộc phạm vi quản lý; quyết định dừng chi trả các chế độ phụ cấp, trợ cấp quy định khi Nhà nước đưa các xã, thôn, buôn, xóm, bản, làng, phum, sóc, ấp (nơi có Trụ sở BHXH huyện đóng trên địa bàn) ra khỏi diện vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn: định kỳ vào tháng 12 hằng năm báo cáo BHXH Việt Nam (qua Vụ Tổ chức cán bộ) về kết quả thực hiện chế độ phụ cấp, trợ cấp đối với viên chức công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo biểu mẫu ban hành tại Công văn số 2284/BHXH-TCCB.

Công văn số 2284/BHXH-TCCB

Nguồn: Tạp chí BHXH