Hướng dẫn khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân trước khi trả cho người lao động

Gian lận là một khái niệm pháp lý khá rộng, nhưng để phục vụ cho mục tiêu của các chuẩn mực kế toán, của quy định pháp luật thuế, cán bộ thuế cần đánh giá sự tuân thủ luật pháp trên tất cả các khía cạnh của quản lý thuế như đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế và kiểm tra thuế. Đồng thời, cần triển khai và đi sâu đánh giá tác động của các sắc thuế đến đời sống kinh tế xã hội, cũng như ảnh hưởng và tác động của từng sắc thuế đến tăng trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế.



Thực trạng công tác kiểm soát gian lận thuế TNCN  

Gian lận thuế TNCN là hành vi thiếu trung thực, cố ý làm sai lệch thông tin liên quan đến tính thuế TNCN, kê khai sai thu nhập chịu thuế, kê khai khống số lượng người phụ thuộc... để thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ nộp thuế TNCN, làm giảm số thuế TNCN phải nộp. Cụ thể, đối với cá nhân nộp thuế, họ có thể không kê khai, kê khai không đủ, hoặc tìm cách khai báo không chính xác số thu nhập thực tế mà họ nhận được. Đối với tổ chức chi trả thu nhập có nghĩa vụ nộp thuế cho người lao động, họ có thể kê khai mức tiền lương, tiền công của người lao động thấp hơn so với thực tế, hoặc cũng có thể chi trả thêm tiền thưởng bên cạnh thu nhập chính thức và không kê khai khoản tiền này nhằm trốn thuế, hoặc làm giảm nghĩa vụ nộp thuế.

Đối với hành vi không tự giác kê khai thuế TNCN. Hiện nay, việc xác định thuế TNCN dựa trên nguyên tắc cá nhân và tổ chức chi trả thu nhập tự kê khai, tự nộp thuế. Do đó, việc gian lận thuế trong kê khai TNCN vẫn tồn tại. Cụ thể là, căn cứ quy định tại Khoản 9 Điều 4 Luật Thuế TNCN 2007 về các khoản thu nhập được miễn thuế và hướng dẫn cụ thể tại điểm I Khoản 1 Điều 3 Thông tư 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định: “Phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm trong giờ”, không ít tổ chức, cá nhân người lao động đã “lách luật”, chuyển từ tiền lương, tiền thưởng thành tiền tăng ca, làm thêm giờ để trốn thuế TNCN. Một hình thức khác mà các đối tượng gian lận thuế thường sử dụng là vô tình, hoặc cố ý khai trùng người phụ thuộc để giảm trừ gia cảnh. Ngoài ra, còn có cả tình trạng kê khai khống số lượng người phụ thuộc để được khấu trừ thu nhập chịu thuế, kê khai chồng chéo người phụ thuộc để được tăng mức giảm trừ, nhằm tránh nộp thuế TNCN. 

Một trong những hình thức gian lận thuế TNCN phát sinh trong thời gian gần đây là hiện tượng ghi giá trên hợp đồng mua bán bất động sản thấp hơn giá thực tế để giảm số thuế phải nộp. Mặc dù giá đất mua bán thường cao hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định, nhưng các trường hợp gian lận thường thỏa thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế để giảm bớt số thuế TNCN phải nộp. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng chiêu bài chuyển nhượng, hay cho tặng bất động sản giữa một số cá nhân có quan hệ gia đình với nhau để được miễn thuế. Hoặc sử dụng chiêu bài có thu nhập phát sinh từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam để được miễn thuế. 

Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế số bùng nổ, nhiều đối tượng cũng đã gian lận thuế TNCN qua hình thức giao dịch bằng tiền mặt. Hình thức này diễn ra đối với các giao dịch cá nhân như mua bán, chuyển nhượng tài sản, trả thù lao bằng tiền mặt; kinh doanh online; cung cấp dịch vụ xuyên biên giới hay các cá nhân kinh doanh qua mạng...  Trên thực tế, nhiều cá nhân tại Việt Nam nhận những khoản tiền lên đến hàng chục tỷ đồng từ Facebook, Google… nhưng không tự giác kê khai và nộp thuế TNCN.

Trên cơ sở nhận diện được các hành vi gian lận, cơ quan thuế đã chủ động phối hợp với các sở, ban ngành tại địa phương giám sát việc kê khai nộp thuế, phối hợp với các ngân hàng thương mại triển khai thu thuế đối với hoạt động thương mại điện tử; phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng quản lý hoạt động chuyển nhượng nhà, quyền sử dụng đất duy nhất. Đối với mô hình hoạt động kinh doanh dịch vụ quảng cáo trực tuyến của các tổ chức nước ngoài không thành lập pháp nhân tại Việt Nam như: Google, YouTube, Facebook… thì cơ quan thuế thực hiện quản lý đối với thu nhập phát sinh thông qua các đối tác hoặc đại lý quảng cáo của các công ty này, hoặc các DN mua dịch vụ trực tiếp của các công ty này tại Việt Nam. 

Cùng lúc, ngành thuế đã tăng cường và tập trung nguồn lực cho việc xây dựng, triển khai phương pháp kiểm tra, thanh tra theo cơ chế quản lý rủi ro; tăng số lượng đơn vị được kiểm tra, thanh tra và mở rộng phạm vi chấn chỉnh trong công tác quản lý thuế. Ngoài ra, cơ quan thuế đã tổ chức thực hiện kiểm tra theo chuyên đề (như: chuyên đề cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công từ hai nơi trở lên; chuyên đề thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, chuyên đề hoạt động kinh doanh thương mại điện tử..., góp phần giúp cá nhân hiểu rõ chính sách thuế và tự giác thực hiện việc kê khai các khoản thu nhập.

Cũng xác định giải pháp kiểm soát gian lận thuế TNCN căn cơ nhất là tác động làm thay đổi nhận thức và hành vi của người nộp thuế (NNT), ngành thuế đã tập trung hướng dẫn, hỗ trợ và khuyến khích các tổ chức, cá nhân kinh doanh tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định. Theo đó, cùng với nỗ lực chuyên nghiệp hóa các hoạt động thường xuyên như: tập huấn chính sách, đối thoại trực tiếp, hướng dẫn, giải đáp qua điện thoại, thư điện tử và văn bản…, toàn hệ thống đã ứng dụng mạnh mẽ phương thức truyền thông đa phương tiện như audio, video, mạng xã hội, trang thông tin điện tử… để đa dạng, hiện đại hóa các dịch vụ thông tin và hỗ trợ. Nhờ đó, sự kết nối và đồng hành giữa cơ quan thuế với NNT ngày càng chất lượng hơn; các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi pháp luật thuế cũng được giải quyết, tháo gỡ nhanh chóng, kịp thời hơn, tạo điều kiện thuận lợi để DN và người dân chấp hành tốt nghĩa vụ với NSNN. 

Tuy nhiên, dù đã có nhiều nỗ lực trong triển khai các giải pháp quản lý thì việc né tránh kê khai thu nhập chịu thuế vẫn xảy ra. Theo đó, các cá nhân không kê khai các khoản thu nhập không có chứng từ rõ ràng hoặc chỉ tạm khấu trừ thuế tại nguồn còn phổ biến. Chưa kể một bộ phận người dân còn thiếu ý thức, cố tính khai man, trốn thuế trong khi công tác quản lý thuế chưa hẳn đã sát sao, toàn diện; thậm chí ở một số trường hợp, cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế và các cơ quan công an, ngân hàng, kiểm toán nhà nước... chưa chặt chẽ.

Ngoài ra, sự tồn tại các giao dịch bằng tiền mặt, cộng với sự phát triển của các dịch vụ chia sẻ như dịch vụ lưu trú Airbnb hay dịch vụ vận chuyển Grab; các trang thương mại điện tử với nhiều tài khoản kinh doanh như Lazada, Tiki, Shopee; các dịch vụ quảng cáo trực tuyến của Google, Youtube... cũng tạo ra nhiều nguy cơ gian lận thuế.

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát gian lận thuế

Một là, xác định rõ mức thuế suất và biểu thuế cho các đối tượng nộp thuế, đồng thời thiết kế khoảng cách hợp lý giữa các bậc thuế suất lũy tiến. Luật Thuế TNCN quy định thuế suất theo biểu thuế luỹ tiến thu nhập từ kinh doanh, tiền lương và tiền công áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần, trong đó chia ra 7 khoảng thu nhập tương ứng với 7 mức thuế suất theo tỷ lệ thuận, thu nhập càng cao chịu mức thuế suất cao. Tuy nhiên, biểu thuế suất này cũng cho thấy không có sự công bằng giữa các đối tượng có thu nhập cao chịu thuế, bởi vì khoảng cách thu nhập là quá ngắn. Khoảng cách từ bậc 1 đến bậc 2 chỉ có 5 triệu đồng, từ bậc 2 đến bậc 3 là 8 triệu đồng, và cho đến bậc thuế cuối cùng chỉ gấp bậc thấp nhất 16 lần. Trong khi đó, ở các nước khoảng cách này là khá xa như Trung Quốc 200 lần, Malaysia 100 lần, Thái Lan 50 lần… Do đó, cần kéo giãn khoảng cách giữa các mức thu nhập chịu thuế để đảm bảo sự công bằng và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Hai là, để đảm bảo công bằng cho NNT, mức giảm trừ gia cảnh nên cho phép NNT tính một số chi phí cơ bản cho cuộc sống. Cụ thể là chi phí chữa bệnh cho NNT và người thân; chi phí học hành cho NNT và người thân; chi phí về mua, xây nhà ở. Đây là 3 nhu cầu lớn nhất trong một đời người mà luật cần quan tâm, đồng thời cũng là cách khuyến khích NNT lấy hóa đơn chứng từ. 

Ba là, có giải pháp nâng cao ý thức kết hợp với hỗ trợ NNT trong tuân thủ pháp luật thuế để giúp họ hiểu rõ các quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Đây được coi là tiền đề rất quan trọng trong công tác quản lý thuế, đi sâu vào giải quyết các nguyên nhân dẫn đến các hành vi gian lận thuế xuất phát từ yếu tố ý thức của NNT. 

Bốn là, chú trọng công tác kiểm tra, thanh tra thuế và nâng cao hiệu lực của các biện pháp cưỡng chế, xử lý vi phạm về thuế. Hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý thuế nói chung, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về thuế nói riêng là yếu tố trực tiếp nhất tác động đến ý thức và khả năng thực hiện hành vi gian lận của NNT trong tuân thủ pháp luật thuế. Trong đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra vừa có tác dụng giám sát, đánh giá quá trình tuân thủ, vừa có tác dụng ngăn ngừa, răn đe và xử lý các trường hợp gian lận thuế. Hoạt động xử lý vi phạm, cưỡng chế thuế nghiêm minh, công bằng sẽ làm hạn chế gian lận về thuế. 

Năm là, liên tục cập nhật các thủ đoạn gian lận của NNT làm cơ sở để cơ quan quản lý thuế ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Trong trường hợp ngày càng phát sinh nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, nhiều phương thức giao dịch như hiện nay, các thủ đoạn gian lận thuế cũng không ngừng gia tăng, ngày càng đa dạng, tinh vi, nên việc cập nhật, nhận biết các thủ đoạn gian lận, phục vụ cho công tác quản lý thuế là rất cần thiết.

Sáu là, tăng cường công tác phối hợp giữa các ban ngành. Một trong những nội dung quan trọng tại Luật Quản lý thuế (sửa đổi) số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 có hiệu lực từ ngày 1/7/2020 là bổ sung quy định trách nhiệm của các bộ, ngành, các tổ chức, đơn vị liên quan, gồm Bộ Công an, Công thương, Thông tin và Truyền thông, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Lao động, Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Nhà nước, Viện Kiểm sát Nhân dân, Toà án Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, HĐND, UBND các cấp, các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, hội đồng tư vấn thuế xã, phường, ngân hàng thương mại và cơ quan thông tin, báo chí.

Bảy là, cơ chế xử phạt. Tại Điều 23 Luật Quản lý thuế số 38/2019 đã quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án. Theo đó, các cơ quan này trong phạm vi, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, tiến hành khởi tố điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh tội phạm theo quy định của pháp luật và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan thuế. Quy định như vậy nhằm bảo đảm phù hợp với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và đảm bảo tính bảo mật nhà nước theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.

Nguyễn Hồng Anh - Trần Thế Nữ