Tổng cục Thuế giới thiệu điểm mới Nghị định 123/2020 về hóa đơn

Trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ hiện đại hóa hệ thống thuế (RARS) của Tổng cục Thuế, ngày 5/4/2021, Ban QLDA RARS phối hợp với Vụ/Cục Quản lý thuế DN lớn đã có buổi làm việc với chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB) nhằm trao đổi cụ thể về những vấn đề liên quan đến mô hình quản lý thuế DN lớn. Tham gia chủ trì buổi làm việc có ông Nguyễn Minh Ngọc - Phó Giám đốc thường trực RARS và ông Nguyễn Bằng Thắng - Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế DN lớn.


Theo đó, mục tiêu hướng đến là nhằm cập nhật thêm và khẳng định các ý kiến đánh giá về các quy trình hiện đang được sử dụng để quản lý các DN lớn, tập trung vào các Tập đoàn kinh tế và các công ty đa quốc gia. Qua đó, so sánh với các thông lệ quốc tế tốt nhất để xác định các khoảng cách vấn đề cần xử lý.

Trao đổi với chuyên gia WB, lãnh đạo Vụ Quản lý thuế DN lớn cho biết, hiện nay, Vụ Quản lý thuế DN lớn được Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế giao quản lý 6 nguồn thu trực tiếp, bao gồm: thu từ dầu thô; các khoản thu từ chênh lệch thu chi của NHNN; thu từ cổ tức lợi nhuận của các DNNN có trên 30% vốn NN; thu cấp quyền khai thác tài nguyên khoáng sản do Bộ TNMT cấp phép; thu từ các khoản phí, lệ phí Trung ương như phí đường bộ, phí visa, phí bầu trời, phí ngoại giao, phí hàng hải, phí viễn thông...Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là, căn cứ tiêu chí nào để xác định DN lớn? Đối với các quốc gia khác, thì đối tượng thu quản lý trực tiếp từ DN lớn, ngoài các khoản thu trên, còn có khoản thu nào khác không và có được thu từ các khoản thu Trung ương hay để các địa  phương thu và chuyển về Trung ương?

Giải đáp và làm rõ thêm nội dung câu hỏi của Vụ/Cục Quản lý thuế DN lớn, chuyên gia của WB cho rằng, việc quản lý các nguồn thu hiện nay, theo thông lệ quốc tế là căn cứ theo tiêu chí xác định DN lớn và các tiêu chí này là khác nhau, tùy thuộc vào từng nền kinh tế. Tuy nhiên, có một phương pháp áp dụng chung, đó là xác định theo tỷ trọng số thu thuế TNDN tổng thể, thực thể thống nhất của DN, bao gồm cả công ty mẹ công ty con với tỷ trọng này thường chiếm từ 60 - 80% trở lên.

Đưa ra giải đáp liên quan đến câu hỏi của Vụ/Cục Quản lý thuế DN lớn về việc xác định tiêu chí DN lớn căn cứ theo tỷ trọng lĩnh vực ngành nghề hay căn cứ theo tổng thu nội địa, chuyên gia của WB nhấn mạnh, theo kinh nghiệm quốc tế, đối với một số ngành nghề thì quản lý theo tỷ trọng thu nội địa, đặc biệt là với một vài tập đoàn, DN đóng vai trò chi phối, chẳng hạn như Tập đoàn Vingroup của Việt Nam. Tuy nhiên, đối với một số ngành nghề khác, thì cần phải đưa vào nhóm ngành nghề thuộc quản lý của Vụ/Cục Quản lý thuế DN lớn, bởi vì những ngành nghề đó có thể rất phức tạp hoặc tiềm ẩn những rủi ro cao như ngân hàng, bảo hiểm. “Tuy nhiên theo nguyên tắc chung, căn cứ vào tỷ trọng tổng số thu do khối DN lớn đóng góp, nhất định phải nằm trong phạm vi quản lý của Vụ/Cục quản lý thuế DN lớn” - chuyên gia WB khẳng định.

Cũng theo chuyên gia của WB, căn cứ theo thông lệ quốc tế, việc xác định các tiêu chí DN lớn thuộc về vấn đề vận hành nghiệp vụ của cơ quan thuế. Do vậy, cơ quan thuế có thể tự quyết định điều chỉnh các tiêu chí tùy vào biến động hoặc tầm quan trọng của các ngành nghề của DN theo từng thời điểm. Ngành thuế sẽ tự quyết định các tiêu chí để xác định DN lớn nào thuộc phạm vi quản lý của Vụ/Cục QLT DN lớn.

Liên quan đến vấn đề trong thời gian bao lâu sẽ xem xét lại các DN thuộc phạm vi quản lý của Vụ/Cục Quản lý DN lớn, chuyên gia WB cho rằng, việc này nên tiến hành sau khi đã xác định các DN đủ quy mô, tiêu chí để đưa vào nhóm các DN lớn và loại bỏ những DN không còn đáp ứng các tiêu chí nữa. Tuy nhiên, do doanh thu của các DN này thường không thay đổi quá đột ngột và thường xuyên, nên chu kỳ thay đổi nên được ấn định trong khoảng thời gian từ 2 - 5 năm, không sớm hơn và cũng không muộn hơn. Ngoài ra, chuyên gia tư vấn của WB cũng nhấn mạnh rằng, không chỉ xem xét theo dõi những DN đang nằm trong nhóm DN quản lý mà Vụ/Cục Quản lý thuế DN lớn cũng cần xem xét tất cả các DN không nằm trong phạm vi, bởi nhiều DN theo thời gian thì quy mô, vai trò và tầm quan trọng của họ đủ lớn, nên cần thiết bổ sung vào danh mục các DN mà Vụ/Cục DN lớn cần quản lý.

Ngoài các vấn đề nêu trên, tại buổi làm việc, chuyên gia WB cũng giải đáp một số câu hỏi liên quan đến vấn đề xác định các tiêu chí rủi ro của DN, công tác thanh tra, việc ra quyết định xử lý...Đồng thời, chuyên gia WB cũng sẽ trình bày thêm bức tranh tổng quan về quy trình quản lý thuế DN lớn và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, tiến hành thảo luận bước đầu các phương án khả thi về thiết kế Cục Quản lý Thuế DN lớn và các vấn đề quản lý sự thay đổi có liên quan.

Lâm Phong